NGUYÊN TẮC ĐỊNH LƯƠNG CHO TRÌNH DƯỢC VIÊN

11825988_1009006332478205_8622853608531035990_n

Không giống với các sinh viên Dược mới ra trường muốn làm Trình Dược Viên (TDV), vì nhược điểm không có kinh nghiệm nên đa phần đều bị áp mức lương của nhà tuyển dụng. Tuy nhiên, với các đối tượng TDV có 1- 2 năm kinh nghiệm muốn “nhảy” sang công ty khác, cuộc chơi lúc này đã thay đổi. Là những người có kinh nghiệm và đang có lợi thế trong đàm phán với nhà tuyển dụng: nếu mức lương đúng như kì vọng  sẽ đồng ý nếu không thì tiếp tục làm công ty cũ, trong khi nhà tuyển dụng đang cần gấp để lấp vào vị trí trống. Với nền tảng là dược sĩ và đã có kinh nghiệm, đa phần đều muốn hưởng một mức lương cao khi ứng tuyển vào các tập đoàn Dược phẩm toàn cầu như: Pfizer, Sanofi, GlaxoSmithKline, MSD, Novartis…, một TDV hơn 1,5 năm kinh nghiệm tâm sự: “em muốn công ty trả cao hơn mức lương cũ từ 4 đến 5 triệu, nếu không em sẽ ở lại”. Như đã biết, một giao dịch muốn đạt được kết quả thì kì vọng của hai bên giao dịch phải có được điểm chung, liệu các công ty Dược trên có sẵn sàng trả mức lương này không ?

Trước khi trả lời câu hỏi này, cần tìm hiểu hai khái niệm trong kinh tế học hiện đại đó là: Thông tin bất cân xứng (Asymmetry Information) và Tâm lý ỷ lại ( Moral Hazard):

  • “Thông tin bất cân xứng: là tình trạng trong một giao dịch hay hợp đồng một  bên có  thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn (thông tin riêng) so với bên còn lại”. Có thể nói: TDV là đội ngũ trực tiếp tiếp xúc với khách hàng (Cán bộ y tế) và mang lại doanh thu cho công ty. Với đặc thù của TDV phải thường xuyên ở ngoài địa bàn để gặp gỡ, trao đổi với Cán bộ y tế về sản phẩm thuốc mình phụ trách. Vì không ở văn phòng như các bộ phận khác nên việc giám sát tình hình làm việc của đối tương này tương đối khó khăn dẫn đến tình trạng các cấp quản lý không thể nắm đầy đủ thông tin hoạt động của đối tượng này.
  • “Tâm lý ỷ lại: là tình trang cá nhân hay tổ chức không còn động cơ để cố gắng hay hành động một cách hợp lý như trước khi giao dịch xảy ra”. Sau khi kí kết hợp đồng lao động với bảng mô tả công việc cụ thể phải làm; tuy nhiên vì tính chất bất cân xứng thông tin nên một số đối tượng sẽ giảm động cơ làm việc và nội dung công việc thực hiện sẽ không như cam kết ban đầu khi kí hợp đồng, nhằm tối đa hóa lợi ích của cá nhân.

Giải pháp cho vấn đề này: các công ty buộc phải thiết lập “hệ thống khuyến khích” gồm: vât chất và phi vật chất để giảm thiểu rủi ro do tổn thất này. Cách phổ biết và cơ bản nhất từ trước đến giờ vẫn được áp dụng là xây dựng hệ thống lương- thưởng nhằm tạo động lực làm việc cho nhân viên bán hàng. Với nguyên tắc: lương cố định sẽ ấn định tương đối thấp và nếu đạt được mục tiêu công ty đề ra sẽ được phần thưởng bằng tiền tương ứng với phần trăm đạt được theo từng tháng hoặc từng quý.

Có thể thấy: thay vì chỉ trả mức lương cố định cao sẽ không tạo được động lực cho bộ phận bán hàng làm việc đồng thời kéo theo doanh thu và lợi nhuận công ty giảm. Với hệ thống lương -thưởng này, họ buộc phải nổ lực làm việc để nhận tổng thu nhập cao hơn tương xứng nếu không sẽ nhận được mức lương cố định rất thấp.

Vì vậy, với các bạn TDV “nhảy” công ty với ý định sẽ được một mức lương cố định cao như đề câp ở trên sẽ rất khó đạt được. Tất nhiên, các nhà tuyển dụng sẽ trả mức lương cố định cao hơn mức hiện tại của bạn để tạo động cơ cho quyết định thôi việc công ty cũ, nhưng khoảng chênh lệch này sẽ không quá khác biệt.

Tuy nhiên, đặc thù của ngành dược phẩm liên quan đến vấn đề sức khỏe (hàng hóa vô giá! và đạo đức kinh doanh), bị kiểm soát rất chặc chẽ và xử phạt mạnh tay từ cơ quan nhà nước. Mặc khác, giá trị các tập đoàn dược phẩm toàn cầu hướng đến là chiến lược xây dựng thương hiệu. Trong thời đại công nghệ thông tin đã giúp thế giới phẳng hơn bao giờ hết, việc áp dụng hệ thống khuyến khích “củ cà rốt – cây gậy” đang cần sự điều chỉnh để phù hợp với lĩnh vực dược phẩm ngày nay. Cụ thể, nếu xây dựng khung thưởng để khuyến khích quá cao tương ứng với doanh số đạt được sẽ hướng đội ngũ TDV có hành vi gia tăng rủi ro tổn thất (các hành vi mang tính chất hối lộ để đạt được doanh số đề ra) nhằm tối đa hóa lợi ích của mình, gây ảnh hưởng không chỉ đến công ty ở địa phương mà còn là hệ thống toàn cầu. Và liệu, GSK đang áp dụng chế độ thưởng non-sale là quá mạo hiểm hay dẫn đầu một xu hướng mới. Các vấn đề này sẽ đề cập đến ở phần tiếp theo.

Nguồn: Namud.vn

Advertisements

MAFIA DƯỢC PHẨM

SỰ THỨC TỈNH CỦA NỀN Y HỌC HIỆN ĐẠI Ở MỸ

30_1quyen904

Sự bùng nổ thông tin, nguyên nhân thúc đẩy sự thay đổi nhận thức toàn cầu, hiện đang lan tràn trên mọi lĩnh vực chính trị, xã hội, tôn giáo, khoa học….
Trong bối cảnh của cuộc cách mạng này, Tây Y, tức nền Y học hiện đại, cũng phải chấp nhận sự thực rằng cần có một sự thức tỉnh, sự nhận thức lại, ít nhất là về “hệ thống tổ chức” để y học có sự phát triển trong tự do và sáng tạo.
Thông tin dưới đây sẽ cho bạn thấy nền y học hiện đại đã và đang bị giới tài phiệt khống chế đến mức độ nào!

Tây Y (Western medecine) đã tiến bộ và phát triển mạnh mẽ trong khoảng 100 năm trở lại đây, Bên cạnh những thành tựu xuất sắc, đặc biệt của các trị liệu bằng phẫu thuật, vi phẫu thuật, đặt implant, thay ghép tạng, sử dụng tế bào mầm v.v,  người ta nhận ra là vẫn có một bộ phận của Tây Y trở nên ì ạch không phát triển gì nhiều. Đó là sự tồn đọng của nhiều bệnh  (thường gặp) mà nguyên nhân vẫn còn không được biết rõ! Và vì thế, những trị liệu hiện nay chỉ có tính cách trị triệu chứng (symptom relief) hoặc trị liệu tạm thời (palliative care). Ví dụ bệnh suyễn, bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh vảy nến, bệnh vảy cá (ichthyosis) v.v và v.v…nhất là Tây Y chưa giải quyết được một bệnh ác tính đang tăng nhanh trong thời đại này, đó là bệnh ung thư.

Có hai cách nhìn về sự kiện này:
Một là, trước sau gì thì Tây Y cũng sẽ tìm ra nguyên nhân để trị những bệnh mà ngày nay đang gọi là vô căn (idiopathic) . Hai là, quan điểm “phân tích” của Tây Y đã đi vào bế tắc, cần phải bổ sung vào đó cái nhìn tổng quan (holistic) của y học cổ truyền ngày xưa!

Khi nhìn về y học cổ truyền, thì người ta lại nhận ra rằng y học cổ truyền đã thất lạc mất rồi. Dù đã được phục hồi phần nào trong thời gian gần đây nhưng nền y học cổ truyền đã bị thất lạc rất nhiều kiến thức mà nó đã xây dựng qua hàng ngàn thế kỷ! Điều đáng sợ, là không phải nền y học cổ truyền tự nó suy tàn, mà nó đã bị “bức tử” trong đầu thế kỷ 20.

Có thông tin cho rằng chính giới tài phiệt của nước Mỹ, vì cạnh tranh, đã tiêu diệt nền y học cổ truyền với mục đích kiếm lợi!

Dĩ nhiên một người sáng suốt sẽ không quá khích (như những người chủ trương thuyết âm mưu) cho rằng nền Tây Y là không giá trị. Ngược lại, phải thấy rõ cái vĩ đại mà ngành Y bây giờ đã đạt được trong thời gian ngắn khoảng 100 năm trở lại đây. Phải thấy biết ơn những gì mà giới tư bản đã đóng góp cho các trường Y trên thế giới, giúp ngành Y có được những thành tựu như ngày nay. Nhưng, không vì thế, mà ta không biết một chút về mặt trái của tư bản, của cái gọi là Quỹ Rockefeller.
Ngay dưới đây là trích dịch một phần thông tin về sự liên kết của giới tài phiệt để kiếm siêu lợi nhuận trong thị trường ngành Y Dược.

Cục quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ- FDA 

“ Bạn sẽ không tin nổi số lượng nhân viên của FDA hay người quen của họ đến gặp tôi ngang ngửa với số bệnh nhân ở Hanover đâu! Bạn không thể nào tin nổi điều này! Không FDA thì cũng là giám đốc của AMA, ACA hay người đứng đầu các viện ung thư chính quy.”
(Thầy thuốc y học hỗ trợ “alternative medicine” Hans Nieper đã nói như vậy)

“Vấn đề của các hệ thống y tế là nó được điều hành bởi các nhà tài phiệt để phục vụ cho các mục đích tài chính. Nó chẳng sinh lợi gì trừ khi có người bị bệnh, do đó toàn bộ hệ thống y tế được thiết kế để làm con người càng ngày càng bệnh tật nhiều hơn.”
(Tiến sĩ bác sĩ Guylain Lanctor, tác giả của ‘The Medical Mafia: How to Get Out of It Alive and Take Back Our Health & Wealth)

Việc tẩy não quần chúng được ngành Dược được bắt đầu rất sớm.

Loại quảng cáo này khuyến khích sử dụng Ritalin và có tên là “hội chứng của người mẹ mệt mỏi” (Tired mother syndrome). Sau đó là sự phát minh ra A.D.D (attention deficit disorder) như là một cách cứu vãn thu nhập khi Ritalin đã không còn được bán chạy nữa!

Ngày xưa, nhiều phim hoạt hình của trẻ em diễn tả rau củ là một hình thức làm tăng thể lực và sức mạnh siêu nhiên. Thứ quyền năng đặc biệt này là phương tiện để tự bảo vệ chính mình trước kẻ khác, chứ chẳng phải là mục đích tự thân. Các nhân vật trong hoạt hình và trò chơi không sử dụng các loại chất độc, chất nổ và tia phóng xạ, vì đó là vũ khí của kẻ ác, và kẻ ác tới giờ vẫn còn sử dụng những cách thức đó.

Ngày nay, ngành giải trí cho các thiếu nhi trong thời đại này cho rằng hóa chất và phóng xạ là nguồn cung cấp siêu năng lực. Phẩm chất của đạo đức và sức khỏe thể chất của các nhân vật đã trở nên lỗi thời . Càng nhiều các loại hóa chất, đặc biệt có các hóa chất có hoạt tính phóng xạ thì càng tốt. Công nghiệp hạt nhân và hóa dầu, vốn là nguồn gốc của năng lượng vô đạo đức, và đột biến gene, lại được xem như là một điều gì đó thật tuyệt vời, góp phần phát triển công nghệ sinh học.

Muốn biết thế nào là tham nhũng thì cần
“Ai nắm giữ quá khứ sẽ kiểm soát tương lai. Ai nắm giữ hiện tại sẽ tóm gọn quá khứ”
phải có sự hiểu biết cặn kẽ về Cục Quản lý Thuốc và Thực Phẩm Hoa Kỳ (US FDA) , nhất là về những cộng sự và lịch sử tăm tối của Cục.

– George Orwell’s (in Nineteen eighty four)

Cục quản lý thuốc và thực phẩm (F.D.A) lúc mới bắt đầu thành lập chỉ là một ban quản lý hóa chất (Division of Chemistry), thời gian sau được gọi là Cục quản lý hóa chất (Bureau of Chemistry), mãi về sau mới đổi tên thành F.D.A.. Cái tên đã được thay đổi nhằm che dấu các dự án hóa chất công nghiệp. Cơ quan này cấp cho các công ty tư cách pháp lý để đưa hóa chất vào thực phẩm và giúp các hãng dược phẩm bằng cách chứng nhận “được FDA chấp thuận”. Người dân sẽ không có bằng chứng pháp lý nào để chống lại ngành công nghiệp hóa chất được.

Các nhà hóa học đầu tiên của “Bureau of chemistry”vào năm 1909 – mà sau này trở thành FDA
Công việc thực sự của nó đã và đang làm là “thông qua” hoặc “xử phạt” những sản phẩm thuộc ngành công nghiệp hóa chất. và với quyền lực này, nó che dấu một cách hợp pháp cho những hóa chất trong ngành công nghiệp, bằng cách tuyên bố …cái gì mới là “an toàn”.

Nó đều đặn chia sẻ những dữ liệu được bảo mật với các nghiệp đoàn hóa học cộng sự, để làm giảm nhẹ trách nhiệm. Ví dụ, những thông tin ô nhiễm mà họ đã ém nhẹm trước công chúng. Đây là những vấn đề thuộc “quan hệ công chúng”

Quỹ Rockefeller

Mô hình F.D.A hiện đại hơn được tiến hành vào năm 1913—trong cùng một thời điểm thành lập ra quỹ Rockefeller. Tay nắm tay, FDA – Quỹ Rockefeller và Hiệp hội y tế Hoa Kỳ (AMA) cùng nhau hoạt động sát cánh.

Quỹ Rockefeller được thành lập vào năm 1913, với mục đích trọng yếu là nhắm vào lãnh vực y học và đào tạo y khoa. Tài trợ ban đầu của Rockefeller cho trường y đạt trên 550.000.000 dollar. Chỉ trong năm 1928, Quỹ Rockefeller đã tài trợ tiền cho 18 trường Y trên khắp 14 quốc gia. Từ đó, những cộng sự của Rockefeller tại FDA đã bắt đầu thúc đẩy cuộc cạnh tranh khốc liệt với tất cả các loại thuốc nào được coi là “đối lập” với ngành công nghiệp hóa chất.

“Tôi sẽ không đời nào công nhận mọi loại thuốc mới nào, trừ phi loại thuốc ấy đến từ một hãng dược khổng lồ với những nguồn tài chính vô hạn. “
– Tiến sĩ Richard J.Crout, giám đốc của cục quản lý thuốc của FDA (Spotlight, 18 tháng 1, 1982)

Các loại thảo dược bị đàn áp là tất cả thứ mà FDA không thể kiểm soát, và khống chế bằng các tấm bằng sáng chế (patent). Thuốc từ tự nhiên sẽ chẳng bao giờ có thể được cấp bằng sáng chế cả! Đó là lý do tại sao tất cả các liệu pháp thiên nhiên và không gây độc hại hiển nhiên trở thành “thuốc bịp bơm” theo cách gọi của FDA, của ngành công nghiệp hóa chất, và của ngành y! Ngược lại chỉ có những hóa chất trái với tự nhiên (như phi hữu cơ và chất độc ) là có thể được cấp bằng sáng chế, và những loại thuốc không chứa độc tố được xem là một mối đe dọa trong việc kinh doanh thuốc.

“FDA bảo vệ các tập đoàn dược phẩm lớn, sau đó được nhận lại sự khen thưởng. FDA sử dụng quyền lực của chính phủ, họ tấn công những ai gây nguy hại cho các hãng dược lớn. Người dân nghĩ rằng FDA đang bảo vệ họ. Nhưng không phải thế!. Những gì mà FDA đang làm và những gì mà người dân tưởng như vậy, thực sự hoàn toàn trái ngược như ngày với đêm.”

– Tiến sĩ Herbert Ley, cựu thành viên hội đồng của FDA

“Vào năm 1919, việc Rockefeller trao tặng một số trường y ở Canada 5.000.000 dollar đã góp phần tạo nên nền giáo dục y khoa Canada đến tận thế kỷ 20.

– McGill University Press

Y học thời đó làm gì có cái thị trường sinh ra lợi lộc như bây giờ, thế nên các trường y đã phải nương nhờ vào các khoản viện trợ của Rockefeller (dành cho những trường đào tạo đạt yêu cầu). Ngành Y nhận tài trợ và chấp nhận điều kiện của Rockefeller là phải tuân thủ các quy định:

– Một là, từ bỏ các thể loại y học cổ truyền thống và các dược liệu tự nhiên, thay vào đó là một thế hệ mới các sản phẩm thuốc từ các dẫn xuất hóa học.

– Hai là phải xóa bỏ toàn bộ nền y học của quá khứ. Điều gì đã xảy ra để khơi mào cho nạn đốt sách ở khắp nơi? Trong một vài trường hợp, chính FDA đã thiêu hủy sách. Quả là một thời kỳ gian nan cho các bác sĩ theo truyền thống trị liệu tự nhiên (traditional naturalpathic)

Tất cả những ai bất đồng chính kiến, cố nắm giữ quá khứ, có quan điểm tổng quan (holistic), dùng các liệu pháp thiên nhiên để chữa bệnh, từ nay sẽ được xem như bị quỷ ám, một dạng “lang băm” đối với hệ thống đào tạo y khoa chính quy, dù cho đó có là những “lang băm” từng đoạt giải nobel y học, và kết quả thu được sâu rộng đến chừng nào.

Đây là chiến lược cây gậy và củ cà rốt. Trường học “đạt yêu cầu” sẽ được đưa cho củ cà rốt (tiền của Rockefeller). Các bác sĩ chống đối sẽ nhận cái cây gậy (luật hình sự của FDA). Một số bác sĩ đã phải rục xương trong tù vì đã chữa bệnh nhân với những loại thuốc “không được chấp thuận”.

Điều đó vẫn đang xảy ra tại các cửa hàng mua bán thực phẩm hữu cơ (không chứa hóa chất công nghiệp)…Có các vitamin hay sữa tươi có thể thực sự tiêu diệt các tế bào ung thư. Điều đó có nghĩa là có khi chỉ cần thực dưỡng mà chẳng cần phải có các bác sĩ với những phương pháp chữa bệnh nào nữa. Thực dưỡng như vậy là bất hợp pháp, dù bằng cách này hay cách khác, vì chẳng có một phương pháp thực dưỡng nào được “chấp thuận” cả..

Đã có một mối quan hệ bất chính được hình thành giữa hiệp hội Y học Hoa Kỳ, FDA, và Quỹ Rockefeller. Để đảm bảo sự tuân thủ hợp đồng của các trường Y, quỹ Rockefeller thường xuyên nhấn mạnh các trường Y phải đặt nhân viên của Quỹ Rockefeller vào ban giám đốc điều hành.

Ủy ban giáo dục chung của quỹ Rockefeller, được thành lập năm 1914, cam kết sẽ chi 500.000 dollar cho phía trường đại học, sau khi trường tăng lên 1 triệu rưỡi dollar vào ngày 1 tháng 1 năm 1916, và chịu trả lương cho khoa lâm sàng (dành cho các bác sĩ theo y học hiện đại). Bằng tiền của Brady và hy vọng nhận được từ tài trợ của quỹ Rockefeller, bệnh viện và tập đoàn Yale đã ký kết hợp đồng sát nhập các bệnh viện trước kỳ hạn là vào ngày 1 tháng 7 năm 1914.
(Theo Web Site của khoa Y – đại học Yale )

Hệ thống pháp lý mới củng cố sự độc quyền của ngành Y, cùng với sự độc quyền ở lĩnh vực công nghiệp hóa dầu của Rockefeller trong quá khứ. Thay vì chỉ sở hữu tất cả các nguồn dầu khí, đế chế Rockefeller hiện nay đã kiểm soát hầu hết tất cả các loại thuốc men tiêu dùng. Nó sở hữu vị chúa sơn lâm, được gọi là “công nghiệp dược phẩm”, mà trước đây là ngành công nghiệp hóa chất. Lại một lần nữa, thuốc men sẽ được kiểm soát và điều chế để chống lại người dân Mỹ. Hệ thống từ đó phân nhánh vươn ra trên toàn thế giới.

Suốt cả cuộc đời, ngài John D. Rockefeller đã từ chối uống loại thuốc thế hệ mới! Trái lại, cả đời ngài lại sử dụng những phương pháp có tính toàn diện của y học truyền thống cho mục đích sức khỏe của chính mình. Nhiều người bạn của ngài tại FDA và AMA cũng cùng một kiểu như thế.

Sau khi Rockefeller cưỡng chiếm các trường Y, thì các bệnh chết người như bại liệt- tim- và ung thư thực sự bùng phát.

Từng có một chuyên gia u não chiễm trệ trong phòng khách của tôi bảo với tôi rằng, anh ta sẽ chẳng bao giờ xạ trị, nếu như chẳng may y bị u não đi nữa. Và tôi hỏi anh ta rằng, “thế chẳng phải anh vẫn chuyển người ta đến khu xạ trị sao?” anh ta điềm nhiên trả lời “ phải thế thôi, nếu không tôi sẽ bị tống cổ khỏi bệnh viện”
(Tiến sĩ, bác sĩ Ralph Moss.)

Nếu mắc bệnh ung thư thì: 90% bác sĩ ung thư học (oncologist) sẽ không bao giờ chấp nhận chiếu xạ cho ung thư phổi. 84% sẽ không chấp nhận hóa trị cho ung thư đại tràng.

– Nghiên cứu của đại học Harvard được công bố tại viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ : “Có sự khác biệt về sự thuận tình chấp nhận các liệu pháp kháng ung thư của các bác sĩ chuyên khoa ung thư khi chính họ bị bệnh”

Các Tập Đoàn Dược – Big Pharma

Ngay từ khi còn là sinh viên các bác sĩ đã nhận quà của Big Pharma, càng về sau sự nghiệp thì những món quà này càng lớn hơn.

Các bác sĩ chuyên khoa khác chỉ đơn giản là viết toa thuốc, nhưng riêng bác sĩ chuyên khoa ung bứu (trị ung thư) có lợi nhuận cao hầu nhờ mua sỉ các loại thuốc chống ung thư trên thị trường, và bán chúng cho bệnh nhân với giá trên trời. Họ cho bệnh nhân biết rằng những người này sẽ chết nếu không có thuốc.
(NBC Nightly News story- Các bác sĩ khoa ung thư thu lợi nhuận từ các thuốc hóa trị liệu. )

“Phần lớn bệnh nhân mắc bệnh ung thư ở đất nước này chết vì hóa trị. Liệu pháp hóa trị không trị hết ung thư vú, ung thư đại tràng hay ung thư phổi. Sự thực này đã được ghi nhận trong hơn một thập kỷ qua, nhưng các bác sĩ vẫn áp dụng hóa trị đối với những khối u loại này. Nữ giới bị ung thư vú có nguy cơ chết nhanh hơn là không có hóa trị.”
(Bác sĩ y khoa Alan Levin)

“Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ (The American Cancer Society) đã cố gắng hủy đi nền tảng nghiên cứu của tôi”. (Tiến sĩ Albert Szent-Gyorgyi, người nghiên cứu những đột phá của vitamin C, người chiến thắng giải Nobel Y học năm 1937 )

Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ – The American Cancer Society
Bạn đoán thử xem tổ chức này được thành lập khi nào và và bởi ai ?
Tổ chức này được thành lập bởi John. D. Rockefeller Jr., trong năm 1931 màu nhiệm, cùng với thời điểm khi ngài “hiến tặng” tài sản cho đại học Havard. Bạn có tin rằng một ngày đẹp trời nào đó, họ sẽ công bố phương pháp chữa lành bệnh ung thư, và vứt bỏ chiếc xe tải chất hàng đống tiền của mình không? Và bạn sẽ hiểu tại sao vitamin C lại đe dọa đến sứ mệnh của họ?

Chúng ta được giáo dục để tin vào “kỳ tích” của hóa dược hiện đại, là vượt trội hơn so với các loại thảo dược truyền thống. Nhưng, cái mà họ không đề cập đến là khoảng từ 50-70% thành phần hóa học của thuốc hiện đại được trích từ các thành phần thảo dược. Chính các hợp chất hữu cơ ấy là lý do tại sao một số loại hóa dược đôi khi lại có hiệu quả!

Theo ghi nhận của ủy ban điều tra dân số Hoa Kỳ, Ung thư là sát thủ đứng thứ 2 ở nước Mỹ, nhưng hầu hết những ca tử vong là do phương pháp điều trị, chứ không phải do bệnh ung thư. Các loại dược phẩm là kẻ giết người đứng thứ 4. Nước Mỹ sở hữu một hệ thống y tế nguy hiểm và đắt tiền nhất thế giới. Hệ thống này tạo ra 60% tất cả các vụ phá sản tại nước Mỹ.

“Không chỉ có một, mà còn rất là nhiều những phương pháp chữa trị cho bệnh ung thư. Nhưng tất cả những phương pháp còn lại đều bị ACS, NCI và các trung tâm ung thư lớn đàn áp. Bởi hiện tại họ đang có quá nhiều lợi nhuận trong chuyện này”. (Tiến sĩ, bác sĩ y khoa, tác giả của “chế độ ăn kiêng Atkins”.)

————-

Nguồn Aryan Pham (có chỉnh sửa chính tả – qwerty87)
Trích dịch từ “The Cancer Report” trên YouTube